Giao lưu văn hóa Việt Chăm ở Quảng Nam – Đà Nẵng

Võ Văn Thắng

     Quá trình hình thành cư dân vùng Quảng Nam-Đà Nẵng diễn ra với sự đan xen, pha trộn của nhiều tộc người. Trong lịch sử, Quảng Nam-Đà Nẵng đã chứng kiến  sự giao lưu, tiếp xúc giữa các nền văn hoá khác nhau, trong đó sự tiếp xúc văn hoá Việt- Chăm có một vai trò quan trọng.

     Từ thế kỷ XVI, khi viết về phong tục ở vùng Ô châu (bao gồm Điện Bàn), tác giả sách Ô châu cận lục đã ghi nhận một số nét khác biệt trong sinh hoạt của vùng này do ‘’Thói cũ đã lâu ngày, lối mới còn quá ít’’, “Làng An Lai huyện Khang Lộc còn giữ dâm phong; làng Phù Lưu châu Bố Chính có món thuốc độc. Nói tiếng Chiêm thì có thổ dân làng La Giang, mặc áo Chiêm thì có con gái làng Thuỷ Bạn. Dân xã Hoài Tài, Tân Lại quá nửa có thói mây mưa; người xã Bao Vinh, Lai ân còn giữ nết trăng gió, thói quen cổ truyền cũng đã lâu lắm. ”

Thực tế trong các hoạt động lao động sản xuất, khai thác thiên nhiên, người dân ở Quảng Nam Đà Nẵng ắt hẳn đã có tiếp thu các kinh nghiệm, kỹ thuật  của người Chămpa. Người Chămpa xưa ở vùng đất này đã biết dệt vải, nấu đường, làm gốm, khai thác lâm, hải sản. Cho đến ngày nay cũng còn tìm thấy những dấu vết của các bờ đập và kênh mương thuỷ lợi của người Chămpa ở vùng Duy Xuyên, Thăng Bình. Đặc biệt, chiếc ghe bầu của vùng Quảng Nam- Đà Nẵng là một sự dấu hiệu rõ nét về việc tiếp thu kỹ thuật của Chămpa vốn có nhiều kinh nghiệm đi lại trên biển. Các nhà kỹ thuật nhận thấy cấu tạo của chiếc ghe bầu khác nhiều với cách làm các loại thuyền đi biển của người Việt ở vùng biển Thanh Hoá trở ra.

Riêng ở khía cạnh tín ngưỡng, những vị thần và sự thờ cúng của người Chămpa vẫn còn ẩn hiện trong nhiều đền miếu và sinh hoạt cúng tế của người Quảng Nam-Đà Nẵng. Mặc dù có những cuộc chiến tranh, tranh giành quyền lực giữa các triều đình Chăm- Việt, nhưng các đền, tháp, các tượng thần của người Chămpa vẫn luôn là những dấu hiệu được cư dân địa phương sùng tín và thờ cúng. Chúng ta có thể bắt gặp nhiều miếu thờ của người Việt hiện nay được xây dựng gần hoặc ngay trên các nền đền tháp của người Chămpa. Các miếu này thường là miếu thờ âm linh nói chung, trong đó bao gồm những ma Lồi, ma Lạc, Chăm, Chợ, Mọi, Rợ và các thần linh của người Chămpa mà người địa phương hiện nay còn có một ý niệm mơ hồ.

Ở các đền miếu này, có khi chúng ta còn thấy được những tượng thờ của người Chămpa để lại, đôi khi đã được tô thêm các lớp vôi, hoặc kẻ vẽ thêm nhiều màu sơn mới. Bên cạnh một nhà thờ tiền hiền ở Hương Quế, Quế Sơn, một tượng bò thần bằng đá của người Chămpa được đặt trong một miếu thờ và được nhân dân địa phương  hương khói và truyền tụng những truyện kể ly kỳ. ở miếu thờ bà Phưòng Chào ở Đai Lộc, bên cạnh một gốc cây, ta còn thấy một tượng thần Chămpa với một bình cắm hương phía trước. Các trường hợp tương tự cũng có thể nhận thấy ở Duy Xuyên, Hội An, Hoà Vang.. ..

     Tên gọi các vị  thần Chămpa được biến đổi theo nhiều dạng. Khi được tiếp thu bởi những quan lại, trí thức có hiểu biết Hán học, thì tên gọi thần  Pô Inư Nagar được phiên thành ra Thiên Y A Na . Trong các sắc phong thần thì  có khi ghi là Thiên Y A Na Diễn Phi Chúa Ngọc, và nhiều người gọi vắn tắt là Bà Chúa Ngọc, trong một vài văn cúng có khi ghi là Chủ Ngu Man Nương hoặc Chủ Ngung Man Nưong. Đối với người bình dân thì âm Pô của tiếng Chăm (một cách gọi tôn xưng các vị thần ) được giữ nguyên thành Bô Bô phu nhân, như trường hợp miếu thờ bà Bô Bô ở Duy Xuyên. Ngoài ra, do các tượng thần của Chămpa, kể cả nam thần và nữ thần, thường có ngực lớn, nên người bình dân về sau thường gọi chung là Bà, và ngôi miếu thờ được gọi là Miếu Bà.

     Nhiều nơi có miếu thờ Bà Dàng hay Cồn Dàng, Lùm Dàng, Gò Dàng , có thể ngờ rằng đây cũng chính là dấu tích thờ các vị thần Chămpa, bởi vì trong tiếng Chăm, âm “Ian” hay “Yan” có nghĩa là “thần thánh”. Chữ, âm Hán Việt đọc là dương, nhưng âm Hán đọc là Yan, cho nên một số địa danh Hán-Việt thoạt nghe như không có liên quan gì đến Chămpa vẫn có thể có nguồn gốc Chămpa, như Đồng Dương, Thai Dương, Dương Lâm, Dương Sơn (Nhận xét của A.Sallet). Ngoài ra, các nơi thờ Bà Vú, Bà Lồi, Bà Đá, Bà Rắn (giọng Quảng Nam đọc là Bà Rén) rõ ràng là có nguồn gốc gần gũi với việc dân gian gọi tên các tượng thần bằng đá của người Chămpa, thường có ngực lớn để trần hoặc gắn liền với các đầu rắn thần Naga trong truyền thuyết Bà la môn.

Ở Quảng Nam Đà Nẵng có nhiều miếu Bà. Trong tín ngưỡng thờ Bà của nhân dân Quảng Nam Đà nẵng ngày nay hẳn đã có sự pha trộn của các tín ngưỡng dân gian khác nhau bao gồm các tín nguỡng dân gian lâu đời tại chỗ lẫn các tín ngưỡng do cư dân từ phía bắc mang vào, và những biến thể hiện đại đa dạng. Sự pha trộn và phát sinh mới xảy ra thường xuyên trong quá trình lịch sử cho nên khó có thể phân tích dấu vết các tầng lớp văn hoá khác nhau trong từng hiện tượng.

     Một trường hợp điển hình là việc thờ Thiên Y A Na. Vị thần này đã được các vua Việt Nam phong thần, được thờ cúng ở nhiều nơi  và  được nhắc đến trong nhiều văn tế ở các lễ cúng. Việc thờ cúng Thiên Y A Na có nhiều yếu tố tương tự tục thờ Mẫu ở các tỉnh phía Bắc, có xen lẫn với hiện tượng cầu đồng, hát chầu văn.. .. và đối với người bình dân, ít ai nghĩ đây là một vị thần có nguồn gốc Chămpa. ở các miếu Bà, mặc dù bên trong miếu có thờ một tượng thần Chămpa, nhưng các truyền thuyết đi kèm thường miêu tả như là nhân thần Việt.

     Hiển nhiên, sự tồn tại các vị thần có nguồn gốc Chămpa trong đời sống tín ngưỡng của nhân dân Quảng Nam-Đà Nẵng nói riêng, và miền Trung nói chung, cần được giải thích từ hai nguyên nhân.

     Một là, từ giai đoạn đầu tiếp xúc Chăm-Việt, những cư dân Chămpa ở lại vùng Quảng Nam Đà nẵng tiếp tục duy trì nếp tín ngưỡng của họ và những người mới di cư đến đã tiếp thu cách nhìn và sự thờ cúng của người tại chỗ . Qua các thời kỳ lịch sử, đã xảy ra sự thay đổi về danh xưng, về nghi lễ cho phù hợp với các quan niệm của chính quyền đương thời, và nguồn gốc Chămpa dần dần bị phai mờ.

     Hai là, những di dân mới đến, mặc dù cư trú ở nhũng địa bàn không có cư dân Chămpa và cũng không biết rõ về các vị thần và tín ngưỡng của người Chămpa, nhưng vẫn cảm nhận các thần thánh theo quan niệm tín ngưỡng của riêng mình. Họ gán các tên gọi và truyền thuyết mới cho những tượng thần và đền miếu của cư dân cũ để lại, đưa vào đó những cách giải thích và những nghi lễ theo truyền thống văn hoá của mình.

     Cư dân của vùng Quảng Nam Đà Nẵng ngày nay là kết quả của sự pha trộn từ nhiều nguồn gốc, trong đó có một bộ phận có nguồn gốc Chămpa. Tuy vậy, người bình dân Quảng Nam Đà Nẵng ngày nay thường nghĩ mình là người Việt thuần tuý,  hiếm thấy ai nghĩ rằng họ là người gốc Chămpa.  Cho nên, ngày nay chúng ta có thể thấy dân chúng thờ cúng, nhang khói ở một miếu thờ Bà nào đó với một tượng thần Chămpa bên trong, nhưng không thấy sự thờ cúng tương tự ở các di tích đền tháp Chămpa. Điều này cũng có nghĩa là việc thờ cúng các vị thần có nguồn gốc Chămpa là kết quả của sự tiếp xúc, giao lưu xảy ra từ rất xa xưa và đã Việt hoá cao độ.

     Hiển nhiên cũng phải thừa nhận là trong tâm thức của người Quảng Nam – Đà Nẵng, hình ảnh những thần linh Chàm, những ma Hời vẫn còn sống động, gần gũi. Vài chục năm trước, ở vùng Quảng Nam-Đà Nẵng còn có tục cúng tá thổ hoặc mãi thổ. Đây là một hình thức cúng đất ở quy mô xóm hoặc làng, thường được tiến hành khi trong vùng có xảy ra nhiều điều bất an như dịch bệnh, mất mùa. Buổi lễ này có ý nghĩa tượng trưng cho việc người đang ở được cư dân xưa kia  cho thuê đất (tá thổ) hoặc bán đất (mãi thổ). Trong buổi lễ, dưới hình thức ứng đồng, có hai người đóng vai vợ chồng chủ đất cùng dân làng đi đo đất(tượng trưng) và đồng ý cho dân làng thuê hoặc mua.

     Ngày nay mặc dù lễ mãi thổ hay tá thổ ở quy mô làng xã không còn tổ chức nữa nhưng ở mỗi gia đình vẫn còn giữ tục cúng đất; ở các vùng nông thôn Quảng Nam-Đà Nẵng, hầu như nhà nào cũng duy trì lễ cúng này trong các tháng mùa Xuân. Một số gia chủ nghĩ rằng đây là lễ cúng các thần coi giữ đất đai trong vườn, nhưng chúng ta có thể thấy trong các lời khấn và văn tế của lễ này đề cập đến một đối tượng là: “ ma Chàm, ma Chợ, ma Mọi, ma Rợ, thương vong đói khát, ma Lồi, ma Lạc, hữu danh vô vị, hữu vị vô danh, đẳng chúng cô hồn đồng lai phụ hưởng”. Trong các lễ vật , luôn có những thực phẩm của cư dân đồng bằng ven biển như cua, mắm cái, khoai lang.. .. và sau khi cúng xong, gia chủ bỏ các thực phẩm này vào trong một chiếc giỏ ( gọi là xà-lét) làm bằng bẹ chuối, mô phỏng hình dạng chiếc gùi của các dân tộc ít người, đem treo ở đầu ngõ. Việc này ngụ ý nếu có những ma Chăm, ma Chợ, ma Mọi, ma Rợ không vào được trong nhà gia chủ thì cũng hưởng được lễ vật ở chiếc xà lét.

     Có thể nói, dù cho điều gì đã xảy ra trong các điều kiện của quá khứ thì ngày nay, người dân vùng Quảng Nam Đà Nẵng vẫn giữ một mối dây quan hệ cảm thông, thân thiện với những cư dân thời trước. Và mặc dù có sự giao lưu, đan xen của nhiều văn hoá, tộc người khác nhau trong lịch sử,  ngày nay, văn hoá vùng Quảng Nam- Đà Nẵng đã hoà quyện thành một thể thống nhất, không còn sự phân biệt giữa các nguồn gốc khác nhau.

(Tạp chí Đất Quảng số 4/1998)

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *